Trưởng thôn, tổ trưởng tổ dân phố có thể nhận phụ cấp hơn 20 triệu đồng/tháng
15:23, 21/05/2026Bộ Nội vụ đề xuất trưởng thôn hoặc tổ trưởng tổ dân phố; bí thư chi bộ; trưởng ban công tác mặt trận có thể nhận phụ cấp hơn 20 triệu đồng/tháng.
Thông tin này được nêu tại Dự thảo Nghị định quy định về tổ chức, hoạt động của thôn, tổ dân phố và chế độ, chính sách đối với người hoạt động không chuyên trách ở thôn, tổ dân phố (Dự thảo Nghị định) do Bộ Nội vụ chủ trì xây dựng, đang được Bộ Tư pháp thẩm định để trình Chính phủ.
Phụ cấp đối với người hoạt động không chuyên trách ở thôn, tổ dân phố
Theo Dự thảo Nghị định, người hoạt động không chuyên trách ở thôn, tổ dân phố gồm các chức danh: Trưởng thôn hoặc Tổ trưởng tổ dân phố; Bí thư chi bộ; Trưởng Ban công tác Mặt trận. Số lượng người hoạt động không chuyên trách ở thôn, tổ dân phố không quá 3 người.
Ngân sách Nhà nước khoán quỹ (bao gồm cả hỗ trợ đóng bảo hiểm xã hội và bảo hiểm y tế) để chi phụ cấp hằng tháng đối với người hoạt động không chuyên trách ở thôn, tổ dân phố.
Theo đó, đối với thôn có từ 700 hộ gia đình trở lên; tổ dân phố có từ 1.000 hộ gia đình trở lên; thôn, tổ dân phố thuộc đơn vị hành chính cấp xã trọng điểm về quốc phòng theo quyết định của cơ quan có thẩm quyền; thôn, tổ dân phố thuộc đơn vị hành chính cấp xã ở khu vực biên giới, hải đảo được khoán quỹ phụ cấp bằng 8,0 lần mức lương cơ sở (tính mức lương cơ sở từ ngày 1-7-2026 là 2,53 triệu đồng thì tương đương 20,24 triệu đồng).
Đối với thôn, tổ dân phố không thuộc quy định nêu trên, được khoán quỹ phụ cấp bằng 6,5 lần mức lương cơ sở (tương đương 16,445 triệu đồng).
Quy mô, tiêu chí của thôn, tổ dân phố
Bộ Nội vụ đề xuất, thôn ở TP Hà Nội và TP Hồ Chí Minh phải có từ 500 hộ gia đình trở lên; tổ dân phố phải có từ 700 hộ gia đình trở lên. Còn ở vùng Trung du và miền núi phía Bắc, thôn phải có từ 150 hộ gia đình trở lên, tổ dân phố phải có từ 300 hộ trở lên.
Thôn ở vùng Đồng bằng sông Hồng phải có từ 400 hộ gia đình trở lên, tổ dân phố phải có từ 550 hộ gia đình trở lên. Tại vùng Bắc Trung bộ, thôn phải có từ 350 hộ gia đình trở lên, tổ dân phố phải có từ 450 hộ gia đình trở lên.

Đối với vùng duyên hải Nam Trung bộ và Tây Nguyên, thôn từ 350 hộ gia đình trở lên, tổ dân phố từ 500 hộ gia đình trở lên. Riêng các tỉnh Gia Lai, Lâm Đồng và Đắk Lắk, thôn phải có từ 300 hộ gia đình trở lên, tổ dân phố phải có từ 450 hộ gia đình trở lên.
Ở vùng Đông Nam Bộ, thôn có từ 400 hộ trở lên, tổ dân phố có từ 550 hộ trở lên. Tại vùng Đồng bằng sông Cửu Long, thôn từ 400 hộ trở lên, tổ dân phố từ 550 hộ trở lên.
Trường hợp ở khu vực biên giới, hải đảo cách xa đất liền, do việc di dân hoặc để bảo vệ đường biên giới, chủ quyền biển đảo; thôn, tổ dân phố ở các địa bàn có yếu tố đặc thù khác (ở nơi có địa hình bị chia cắt phức tạp; nằm biệt lập trên các đảo, cù lao, cồn trên sông…) thì quy mô thôn, tổ dân phố có thể thấp hơn quy định nêu trên. UBND cấp tỉnh quy định cụ thể quy mô số hộ gia đình đối với các thôn, tổ dân phố này nhằm bảo đảm phù hợp với điều kiện của từng địa bàn.
Ngoài ra, thôn, tổ dân phố phải có cơ sở hạ tầng kinh tế – xã hội thiết yếu, phù hợp với điều kiện thực tế của địa phương để phục vụ hoạt động cộng đồng và bảo đảm ổn định cuộc sống của người dân.
HĐND xã, phường, đặc khu quyết định thành lập, sắp xếp, tổ chức lại, giải thể, đặt tên, đổi tên tổ dân phố trên địa bàn.
Theo Người Tiêu Dùng


